Trang chủ

Lịch sử cơ quan công tác dân tộc

Bản để inGửi bài này qua Email

I. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỈNH BẮC GIANG VÀ CÔNG TÁC DÂN TỘC TRƯỚC NĂM 1959
1. Đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hoá tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là vùng đất cổ, có bề dày lịch sử hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc Việt Nam, có nhiều tên gọi và quy mô hành chính khác nhau, tên gọi “ Bắc Giang” xuất hiện đầu tiên trên bản đồ hành chính vào thời nhà Lý (thế kỷ XI-XIII), lúc đó Bắc Giang là một trong 24 lộ (tên đơn vị hành chính) của cả nước. Với vị trí quan trọng ở phía Bắc Hà Nội, Bắc Giang trong lịch sử luôn giữ vai trò là phên dậu của thành Đông Đô, Thăng Long trong các cuộc đấu tranh chống giặc phương Bắc xâm lược, là vùng đất có thế mạnh ba vùng: miền núi, trung du và đồng bằng, có hệ thống sông hồ tỏa khắp, nước chảy quanh năm, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và quan hệ giao thương.
Trong các triều đại phong kiến, vùng đất Bắc Giang đã có nhiều thần phả, thần tích ghi lại tên đất, tên làng với những con người phi thường đứng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống chọi với thiên nhiên. Chiến thắng Xương Giang, Cần Trạm, Hố Cát chống giặc Nhà Minh thế kỷ thứ XV đã đi vào lịch sử như một Xích Bích, Hợp Phì. Dư­ới thời thực dân Pháp đô hộ, nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Bắc Giang nói riêng không cam chịu làm nô lệ, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở hầu khắp các địa phương trong cả nước. Ở Bắc Giang có cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do người anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài gần 30 năm (1884-1913), nghĩa quân Yên Thế đã lập lên những chiến công oanh liệt, làm cho quân Pháp nhiều phen phải kinh hoàng.
Sau khi tái lập (năm 1997), Bắc Giang có diện tích 3.822 km2, gồm 9 huyện ( Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên, Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng) và thị xã Bắc Giang với 227 xã, phường, thị trấn. Tỉnh Bắc Giang nằm ở tọa độ 220 _210 27’ vĩ độ bắc, 105053’-106011’ kinh độ đông, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và tây bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía nam và tây nam giáp tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh.
Địa lý tự nhiên Bắc Giang chia thành 2 vùng: Vùng rừng núi và vùng trung du. Các huyện vùng núi gồm: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang và Yên Dũng. Các huyện vùng trung du gồm: Hiệp Hòa, Việt Yên và  Thành phố Bắc Giang.Bắc Giang có nhiều sông ngòi, phân bố tương đối đều giữa các vùng. Sông Lục Nam (Minh Đức), bắt nguồn từ Đình Lập (Lạng sơn) chảy qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng rồi nhập vào sông Thương ở phía trên Phả Lại.Sông Thương (Nhật Đức), bắt nguồn từ dãy Cai Kinh  (Lạng Sơn) chảy qua các huyện Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang, Thành phố Bắc Giang, Yên Dũng, rồi nhập vào sông Cầu ở phía trên Phả Lại.Sông Cầu (Nguyệt Đức hay Như Nguyệt) bắt nguồn từ tỉnh Bắc Cạn, chảy qua Thái Nguyên rồi vào Bắc Giang, đến ngã ba Xà nhập với sông Cà Lồ rồi xuôi về Phả Lại.Ngoài ba con sông lớn trên còn có hàng trăm con suối, ngòi lớn nhỏ chảy đan xen giữa các vùng.
Bắc Giang có hơn 20 loại hình khoáng sản, khoảng 40 loại mỏ trung bình và nhỏ gồm đồng, vàng, sắt, chì, kẽm, thủy ngân... phong phú hơn cả vẫn là nhóm nguyên, nhiên liệu gồm than đá, than bùn, các loại nguyên vật liệu cung cấp cho ngành công nghiệp hóa chất, gốm sứ, vật liệu xây dựng....
Khí hậu Bắc Giang mang những đặc trưng của vùng khí hậu chuyển tiếp, vừa có tính nhiệt đới nóng ẩm, vừa có tính chất Á nhiệt đới. Nhiệt độ bình quân hàng năm là 240C, lượng mưa trung bình ba năm 1998, 1999, 2000 là 1.485,6 mm.
Hiện nay rừng của Bắc Giang có 110.600 ha, (trong đó rừng tự nhiên có 63.832,41 ha, rừng trồng mới có 46.837,65 ha) tập trung chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, YênThế.Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Bắc Giang thuận lợi cho sản xuất nông – lâm nghiệp. Các ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, thương mại, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, v.v. cũng có những điều kiện thuận lợi đảm bảo cho phát triển cũng như trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.
2. Đặc điểm dân cư và vùng dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Giang
Dưới thời thống trị của thực dân Pháp, tỉnh Bắc Giang có nhiều đồn điền vào loại bậc nhất trong nước. Bọn chủ điền đã chiêu mộ rất đông tá điền các nơi về đây làm thuê cho chúng. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), nhân dân các tỉnh bị địch chiếm đóng đã tản cưi đến Bắc Giang tránh địch. Sau khi cuộc kháng chiến kết thúc, một bộ phận đã ở lại định cư. Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế xã hội miền núi, nhiều đồng bào ở miền xuôi đã đến Bắc Giang sinh sống, lập nghiệp. Do vậy, đặc điểm về dân cư của tỉnh Bắc Giang là sự sinh sống đan xen giữa đồng bào miền xuôi với đồng bào miền núi, giữa đồng bào kinh với đồng bào các dân tộc thiểu số thành một cộng đồng hoà quyện và thống nhất giữa người dân bản địa sống lâu đời ở địa phương với dân cư các tỉnh khác chuyển đến, giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số cùng nhau xây dựng quê hương qua các thời kỳ lịch sử từ thời phong kiến, thời thực dân Pháp thống trị và cho đến ngày nay.
 Mỗi dân tộc thiểu số vẫn có tập tục, sắc thái văn hoá riêng của mình song lại kế thừa và chịu ảnh hưởng của văn hoá dân tộc khác nhưng tựu chung đều có một tinh thần yêu nước, cần cù trong lao động sản xuất, anh dũng trong chiến đấu, đoàn kết yêu thương nhau xây dựng một cộng đồng Việt Nam thống nhất. Ngày nay do giao lưu kinh tế, văn hoá thuận lợi, quan hệ xã hội rộng mở vì vậy số lượng thành phần các dân tộc cũng biến động, tính chất sống đan xen và sự hoà quyện các sắc thái văn hoá ngày càng tăng đã tạo nên một nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
 Theo số liệu điều tra thời điểm01/4/2009, dân số toàn tỉnh là 1.555.720 ng­ười, bao gồm 21 thành phần dân tộc, trong đó có 20 thành phần dân tộc thiểu số (DTTS) số dân là 192.865 ngư­­­ời, với 12,4% dân số toàn tỉnh: dân tộc Nùng có 73.932 ng­­ư­ời, chiếm 38,32%; dân tộc Tày có 39.603 ng­­­ười, với 20,53%; dân tộc Sán Dìu có 26.812 ngư­­­ời, với 13,9%; dân tộc Sán Chay (gồm Cao lan và Sán chí) có 24.786 người, với 12,85%; dân tộc Hoa có 18.444 ng­­ư­ời, với 9,56%; dân tộc Dao có 8.871 ng­­­ười, với 4,6%; các dân tộc khác có 493 ng­­­ười, với 0,25%. Đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung tại 105 xã miền núi thuộc các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang và Tân Yên.
3. Công tác dân tộc trước năm 1959
          Tháng 8 năm 1940 Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang được thành lập là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, đánh dấu bước trưởng thành về công tác xây dựng Đảng, là yếu tố cơ bản, trực tiếp đảm bảo cho phong trào cách mạng của tỉnh giành thắng lợi. Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã tích cực tham gia các phong trào như: củng cố và phát triển các cơ sở Đảng, tổ chức quần chúng cách mạng, đấu tranh chống bắt phu, bắt lính, đòi giảm sưu thuế, chống đánh đập, treo cờ, giải truyền đơn, đòi chia lại ruộng đất; các phong trào quyên góp ủng hộ cách mạng, tham gia xây dựng lực lượng, từng bước đưa phong trào cách mạng của tỉnh từ thấp đến cao, tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.
Tháng 8 năm 1945, d­­ưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang đã cùng nhân dân cả nước nhất tề đứng lên giành chính quyền, thành lập n­ước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đưa cách mạng nước ta bước sang một kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh thù trong giặc ngoài tìm cách lật đổ Nhà nước dân chủ nhân dân còn non trẻ. Mặc dù bận trăm công nghìn việc nhưng Đảng, Chính phủ, Bác Hồ vẫn đặc biệt quan tâm đến các dân tộc thiểu số; ngày 03/5/1946, Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh số 58, thành lập Bộ Nội vụ bao gồm nhiều cơ quan, trong đó có Nha Dân tộc thiểu số. Ngày 09/9/1946, Bộ trư­ởng Bộ Nội vụ đã ký Nghị định số 359, quy định chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Nha Dân tộc thiểu số với nhiệm vụ lúc đó là: “nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số trong toàn cõi Việt Nam, để củng cố trên nguyên tắc bình đẳng, sự đoàn kết và tư­­ơng trợ giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”.
Năm 1947, Tổ nghiên cứu dân tộc thuộc Ban Mặt trận- Dân vận Trung ương được thành lập, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của Nha dân tộc thiểu số với phương hướng hoạt động công tác dân tộc phù hợp với tình hình mới. Công tác dân tộc trở thành một bộ phận quan trọng của Mặt trận nhân dân thống nhất, vừa tổ chức tham mưu về dân tộc của Chính phủ kháng chiến, vừa tập trung vận động đồng bào các dân tộc huy động sức người, sức của, đoàn kết ủng hộ kháng chiến.
Trong thời kỳ này, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn về dân tộc và miền núi như: Chỉ thị số 128-CT/TW ngày 24/2/1959 của Ban Bí th­­­ư Trung ­ương Đảng về đẩy mạnh hơn nữa việc thi hành chủ trư­­­ơng tăng cường công tác vùng cao; Nghị quyết số 38/CP, ngày 12/3/1968 của Hội đồng Chính Phủ, về công tác vận động định canh định cư­­­; Chỉ thị số 84-CT/TW ngày 03/9/1964 của Ban Bí th­­­ư Trung ­ương Đảng về nhiệm vụ công tác giáo dục ở miền núi; Chỉ thị số 64/TTg ngày 31/5/1965 của Thủ tư­ớng Chính phủ về việc xây dựng và mở rộng hệ thống tr­­­ường Thanh niên dân tộc; Chỉ thị số 114-CT/TW ngày 06/12/1965 của Ban Bí thư­­­ Trung ­ương Đảng về tăng c­ường lãnh đạo công tác văn hoá, văn nghệ ở miền núi; Nghị quyết số 113/CP ngày 22/7/1967 của Chính phủ về công tác văn hoá thông tin ở miền núi...
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh uỷ Bắc Giang đã trực tiếp lãnh đạo các ngành, các cấp cùng toàn thể nhân dân các dân tộc trong tỉnh giải quyết nhiều hậu quả do chế độ cũ để lại, đề ra một số biện pháp cấp bách phải làm ngay như: tăng cường đoàn kết, xây dựng lực lượng vũ trang, tích cực trấn áp bọn phản động, bảo vệ và củng cố vững chắc chính quyền cách mạng, đẩy mạnhtăng gia sản xuất cứu đói, thực hiện “nhường cơm sẻ áo”, đùm bọc lẫn nhau theo truyền thống “lá lành đùm lá rách”; mở các lớp bình dân học vụ, phong trào vệ sinh phòng bệnh và xây dựng nếp sống văn hoá mới.
Trong điều kiện ý thức cách mạng của đồng bào còn hạn chế, mâu thuẫn dân tộc và tư tưởng kỳ thị dân tộc còn nặng nề, đời sống nhân dân ở nhiều vùng còn rất khó khăn, giao thông chưa phát triển; cơ sở chính trị ở nhiều nơi còn mỏng, yếu, cán bộ cốt cán thiếu nghiêm trọng...Trong khi đó âm mưu, thủ đoạn của địch rất thâm độc, chúng tăng cường càn quét, khủng bố, đe doạ, dụ dỗ, mua chuộc đồng bào, sử dụng bọn phản động làm tay sai dựng lên để lừa gạt nhân dân, chia rẽ dân tộc, làm suy yếu lực lượng kháng chiến của ta.
Nhận rõ vị trí quan trọng và ý nghĩa chiến lược của công tác vận động cộng đồng bào dân tộc thiểu số tham gia kháng chiến. Cơ quan công tác Dân tộc đã đi sâu nghiên cứu, nắm tình hình ở các vùng dân tộc miền núi để tham mưu cho Tỉnh ủy có chủ trương, chính sách, biện pháp giải quyết đúng đắn, kịp thời và phù hợp với đặc điểm dân tộc. Mặt khác đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc về chính sách đoàn kết kháng chiến cứu nước của Đảng, Chính phủ  Hồ Chủ tịch, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của địch. Vận động đồng bào đẩy mạnh sản xuất cải thiện đời sống tổ chức tiếp tế gạo, muối, nông cụ, thuốc men, vải mặc...cho các vùng bị thiếu đói, giúp đỡ các gia đình có công với cách mạng. Mở các lớp dạy học để xoá mù chữ cho dân; xây dựng chính quyền nhân dân để kháng chiến lâu dài. Cơ quan công tác dân tộc tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy có nhiều chính sách về đại đoàn kết các dân tộc, tiêu biểu như:
- Mở hội nghị liên hoan đoàn kết các xã có ngư­­ời Kinh, Thổ, Nùng, Mán, Hoa Kiều để giải quyết những xích mích, làm cho các dân tộc hiểu nhau, xóa bỏ những thành kiến cùng nhau kháng chiến.
- Ruộng đất của ng­­ười tản cư­­ theo kháng chiến bị các gia đình, họ hàng thân thích của Thổ phỉ chiếm đoạt và những ng­­ười ở lại cày cấy thì đ­ư­ợc lấy trả lại cho những ng­­ười hồi c­­ư.
- Nhà cửa của những người tản cư mà những người ở lại hoặc vợ con thân thuộc của Thổ phỉ ở thì dàn xếp đôi bên cùng ở chung.
- Mở các chợ để giải quyết việc trao đổi sản phẩm hàng hóa ở địa ph­ương, tiếp tế muối, dầu, vải cho nhân dân và để cho nhân dân các dân tộc giúp đỡ lẫn nhau, xóa bỏ những thành kiến dân tộc.
  Trong vùng địch tạm chiếm, đồng bào các dân tộc vẫn tích cực tham gia sản xuất, cung cấp lương thực cho Chính phủ. Các xã: Lục Sơn, Bình Sơn, Trường Sơn (huyện Lục Nam) trở thành địa bàn của các đơn vị bộ đội và nhiều cơ quan trong suốt thời gian kháng chiến. Vùng tự do Bắc Giang nối liền với các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn là hậu phương lớn - nơi tập trung các cơ quan, kho tàng, công binh xưởng và cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến.
Việc thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức, tạm chia ruộng đất đã đáp ứng một phần nguyện vọng “ng­ười cày có ruộng” của đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Do có sự  tập trung chỉ đạo và phát triển sản xuất nông nghiệp nên đời sống nhân dân các dân tộc dần đ­ược ổn định, giảm nạn đói; các chợ đ­ược mở lại, giao l­ưu hàng hoá giữa các vùng, các dân tộc phong phú hơn; các tệ nạn xã hội nh­ư cờ bạc, r­ượu chè, thuốc phiện, mê tín dị đoan từng bư­ớc đ­ược đẩy lùi; nhiều hủ tục lạc hậu trong ma chay, cư­ới xin tốn kém cũng đư­ợc cải tiến, phong trào văn hoá văn nghệ phát triển theo hướng tích cực nhằm phục vụ nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc. Phong trào bình dân học vụ tiếp tục đ­ược phát triển, hệ giáo dục phổ thông đ­ược thiết lập, trình độ văn hoá đư­ợc nâng lên, là một trong những điều kiện quan trọng để đồng bào nhận thức đúng và thực hiện tốt các chủ tr­ương chính sách của Đảng và Nhà nước. Do có nhiều công lao đóng góp, lập công xuất sắc, các địa phương vùng dân tộc của tỉnh Bắc Giang đã được khen thưởng như: nhân dân và lực lư­ợng vũ trang nhân dân huyện Yên Thế; xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn đư­ợc Nhà n­ước phong danh hiệu “Anh hùng lực lư­ợng vũ trang”.
PHẦN II:
CÔNG TÁC DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG
VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
1. Công tác dân tộc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa I đã thông qua đề án thành lập Ủy ban Dân tộc thuộc Hội đồng Chính phủ, có quyền hạn, trách nhiệm ngang bộ. Ngày 29/9/1961, Chính phủ ban hành Nghị định số 133/CP quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Dân tộc Chính phủ. Theo đó, Ủy ban Dân tộc là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng và tương trợ, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số tiến nhanh về mọi mặt lên Chủ nghĩa Xã hội.
Ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang được thành lập từ năm 1959, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, có hai chức năng: Tham mưu cho Tỉnh ủy về vấn đề dân tộc và giúp Ủy ban Hành chính tỉnh phụ trách một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Ban Dân tộc có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc việc thực hành các chính sách dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số; chủ chì phối hợp với các ngành tham mưu giúp Tỉnh ủy, UBHC tỉnh ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách của Đảng và Chính phủ ở vùng dân tộc thiểu số trong tỉnh; tham gia ý kiến với cấp ủy, chính quyền địa phương về xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở những xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số; vận động đồng bào dân tộc thiểu số du canh du cư thực hiện định canh định cư, ổn định cuộc sống; tổ chức các hội nghị chuyên đề về các dân tộc để biểu dương, khích lệ đồng bào hăng hái thi đua, thực hiện tốt các chủ trướng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tiếp đón, thăm hỏi, động viên, tổ chức các cuộc gặp gỡ giao lưu giữa các dân tộc  nhằm tăng cường tình đoàn kết các dân tộc; hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; thực hiện một số nhiệm vụ khác về công tác dân tộc do tỉnh ủy, Tiểu ban Dân tộc trung ương giao. Thời gian này, công tác dân tộc tập trung phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược là: Tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ đi lên CNXH, hậu thuẫn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.
Sau Hiệp định Giơnevơ, n­­ước ta tạm thời bị chia cắt thành 2 miền với hai nhiệm vụ chiến lược, Miền Bắc đư­­ợc giải phóng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; Miền Nam tạm thời nằm dư­­ới sự kiểm soát của Mỹ Ngụy, tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ Bắc Giang đã lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc cải tạo XHCN, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; nhanh chóng củng cố lực lượng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, tiến hành cải tạo đồng ruộng, trồng cây gây rừng, xây dựng trường học, tiến hành xoá mù chữ và bổ túc văn hoá, phát động xây dựng đời sống mới, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu trong đồng bào dân tộc.Nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang đã hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nư­ớc; thanh niên với phong trào “Ba sẵn sàng”, phụ nữ với phong trào “Ba đảm đang” với quyết tâm “Mỗi ng­ười làm việc bằng hai vì Miền Nam ruột thịt” tất cả cho tuyền tuyến lớn “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lư­ợc”.
Vư­ợt lên những mất mát hy sinh, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang vừa anh dũng đánh trả chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, vừa phát triển sản xuất, hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm do đồng bào sản xuất đư­ợc chi viện kịp thời cho tiền tuyến. Đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Giang đã tiếp đón, giúp đỡ, bảo vệ các cơ quan, xí nghiệp, bệnh viện, trư­­ờng học, đơn vị quân đội của Trung ương và một số tỉnh bạn đóng tại địa ph­­ương. Đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã tích cực động viên và tiễn đ­ưa hàng vạn con em của mình lớp lớp lên đư­ờng vào Nam chiến đấu với tinh thần “xẻ dọc trư­ờng sơn đi cứu nư­ớc”, nhiều ng­ười đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm, lập công xuất sắc, góp phần thành công của Đại thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất hai miền Nam- Bắc, đưa cả nước tiến lên CNXH.
Kết thúc kháng chiến, nhiều tập thể, cá nhân đư­ợc Nhà n­ước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lư­ợng vũ trang” như­: Lực lư­ợng vũ trang nhân dân các huyện: Lạng Giang, Tân Yên, Lục Nam, Sơn Động; dân quân du kích các xã:  Dư­ơng H­ưu, Tuấn Đạo (huyện Sơn Động); xã Sơn Hải, Tân Mộc (huyện Lục Ngạn); xã Nghĩa Ph­ương, Bình Sơn (huyện Lục Nam); xã Cao Th­ượng (huyện Tân Yên); phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lư­ợng vũ trang” cho ông Hoàng Quang Tích- dân tộc Tày, xã Quý Sơn; truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho bà Nông Thị Nhóng - Dân tộc Nùng xã Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn.
Trưởng Ban Dân tộc thời kỳ 1959-1983 là đồng chí Vũ Hoàng Kim( từ 1959-1971 Phó chủ tịch UBHC tỉnh kiêm nhiệm, từ 1971-1983 là Tỉnh ủy viên chuyên trách) các Phó Trưởng ban là đồng chí Trần Văn Phú và đồng chí Nguyễn văn Bộ.   
2. Công tác dân tộc thời kỳ 1975-1986
Sau năm 1975, trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác dân tộc tập trung ổn định sản xuất và đời sống, giải quyết các vấn đề xã hội do chiến tranh để lại, Ban Dân tộc đã tham mưu cho Tỉnh ủy kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề đặt ra ở vùng dân tộc, theo dõi, kiểm tra các chính sách như: cấp thuốc chữa bệnh, muối, dầu hỏa; các chính sách miễn giảm thuế, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề tự túc lương thực. Cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, đồng bào dân tộc thiểu số đã vượt qua mọi thử thách, khó khăn, ổn định cuộc sống, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt XHCN.
 Ngày 05/5/1979, Ban bí thư Trung ương đảng ra quyết định số 38/QĐ-TW quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Ban Dân tộc Trung ương và các tỉnh. Nhiệm vụ của cơ quan làm công tác dân tộc tỉnh là giúp Tỉnh ủy theo dõi, kiểm tra và tổng hợp tình hình chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và chủ trương của cấp ủy về vấn đề dân tộc; nghiên cứu các vấn đề về chấp hành chính sách của Đảng đối với các dân tộc ở địa phương theo yêu cầu của cấp ủy và phối hợp với Ban Dân tộc Trung ương trong việc nghiên cứu và kiểm tra các vấn đề về chính sách của Đảng đối với các dân tộc theo sự chỉ đạo của cấp ủy.
Căn cứ chương trình làm việc của Tỉnh ủy, Ban Dân tộc lập chương trình công tác của ban và tổ chức thực hiện chương trình công tác đó. Trưởng ban hoặc Phó trưởng ban được tham dự các kỳ họp của Ban Thường vụ để bàn về vấn đề dân tộc ít người. Ban Dân tộc được cung cấp các thông tin cần thiết như các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông báo của Trung ương, báo cáo của các ngành và các huyện về những vấn đề quan trọng có liên quan đến chính sách dân tộc. Ban dân tộc có quan hệ chặt chẽ với các cơ quan khác để trao đổi những ý kiến về những vấn đề có liên quan đến chính sách dân tộc; phối hợp nghiên cứu, kiểm tra những vấn đề về dân tộc theo các quy định của Trung ương, Tỉnh ủy; yêu cầu các ngành, các huyện cung cấp nghững tư liệu cần thiết về vấn đề dân tộc có liên quan đến trách nhiệm công tác của Ban; phối hợp với Ban Dân tộc Trung ương và các tỉnh để trao đổi kinh nghiệm, hướng dẫn nghiệp vụ, phối hợp kiểm tra hoặc nghiên cứu những vấn đề về chính sách dân tộc ở địa phương. Bên cạnh đó, có nhiệm vụ báo cáo, thỉnh thị, phản ánh tình hình thực hiện chính sách dân tộc và những vấn đề khác có quan hệ đến công tác dân tộc đến đồng chí Bí thư, Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Cơ quan công tác dân tộc các thời kỳ đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho tỉnh ủy về chủ trương, chính sách dân tộc, chủ động đề xuất với  tỉnh ủy, UBND tỉnh nhiều nội dung quan trọng và giải quyết kịp thời vấn đề dân tộc.Bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, nền kinh tế của tỉnh đứng trước nhiều khó khăn, nhất là chiến tranh biên giới đã thu hút phần lớn nhân lực, vật lực phục vụ chiến tranh. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa tập trung thực hiện chỉ thị số 100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến và mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm người lao động”. Chỉ thị 100/CT-TW đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đồng bào dân tộc đã có nhiều cố gắng, khai hoang phục hoá, đầu tư thâm canh nhằm tăng nhanh năng xuất sản lượng cây trồng vật nuôi, từng bước tự túc được lương thực, đời sống đồng bào được cải thiện đáng kể.
Từ trong khó khăn gian khổ, ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc đã xuất hiện nhiều điển hình và cá nhân tiêu biểu như: hợp tác xã Tân Mộc là lá cờ đầu của huyện Lục Ngạn về trồng cây đỗ t­­ương, đư­ợc cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng gửi thư­­ khen ngợi và trực tiếp về thăm động viên, từ phong trào này, cố Chủ nhiệm HTX Tân Mộc - Lý Lỏi Sáng (dân tộc Dao) đã đư­­ợc Nhà nư­ớc phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động; trong đấu tranh và bảo vệ an ninh Tổ quốc ông Nông Văn Định - dân tộc Tày xã Tam Tiến, huyện Yên Thế, ông Lý Trung Phẩm- dân tộc Sán Chí xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn đư­ợc Nhà n­ước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lư­ợng vũ trang”. Trong đồng bào dân tộc đã xây dựng được nhiều cán bộ cốt cách tiêu biểu như: ông Đỗ Phụng, ông Lý Hồng Hà, ông Lâm Quốc Ấn, ông Nguyễn Văn An, ông Vi Hồng Độ, ông Nguyễn Liên, ông Lã Thanh Vượng, ông Đinh Quang Hiệp và nhiều tấm gương tiêu biểu khác.
 Thời kỳ 1983- 1986, đồng chí Lý Hồng Hà làm Trưởng Ban;  các Phó Trưởng Ban là đồng chí Lê Chắc, đồng chí Lâm văn Thăng. Thời kỳ 1986-1988, đồng chí Lê Chắc làm Trưởng ban, Phó Trưởng Ban là đồng chí Lâm văn Thăng.
3. Công tác dân tộc thời kỳ đổi mới
 Ngày 16/2/1987, Hội đồng Nhà nước có Quyết định số 78/HĐNN về giải thể Ủy ban Dân tộc của Chính phủ; trước yêu cầu của tình hình cách mạng mới, ngày 10/3/1988, Tỉnh ủy Hà Bắc ra Nghị quyết số 234/NQ/TU về việc hợp nhất Ban Dân vận và Ban Dân tộc chuyển thành Ban Dân vận Tỉnh ủy. Ngoài chức năng truyên truyền vận động nhân dân, Ban Dân vận Tỉnh ủy còn có thêm một số chức năng: Tham mưu, tổng hợp cho Tỉnh ủy về công tác dân tộc thiểu số và có các nhiệm vụ là: nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề về dân tộc và công tác dân tộc, kiến nghị với Trung ương, Tỉnh ủy về những chủ trương, chính sách đối với các DTTS; kiểm tra việc thực hiện  các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Bộ chính trị, Ban Bí thư, Ban thường vụ Tỉnh ủy về vấn đề DTTS ở các cấp ủy đảng, các tổ chức chính quyền và các đoàn thể, phối hợp với ban Tổ chức Tỉnh ủy nghiên cứu công tác xây dựng Đảng ở vùng DTTS và xây dựng chính sách đối với cán bộ DTTS, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác dân tộc ở các ngành, các huyện. Đồng chí Ngô Đình Loan, Phó Bí thư Tỉnh ủy tiếp tục được phân công kiêm Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy, tiếp đó là đồng chí Nguyễn Văn Vĩnh làm Trưởng ban; các đồng chí Lê  Chắc, Lâm Văn Thăng, Nguyễn Tiến, Nguyễn Đức Ngũ, Lê Kim Ba làm Phó Trưởng ban.
Năm 1995, bộ phận (cơ quan) làm công tác dân tộc tỉnh tách ra khỏi Ban Dân vận Tỉnh uỷ với tên gọi Ban Dân tộc và Miền núi theo Nghị định số 11/CP, ngày 20/2/1993 của Chính phủ. Chức năng, nhiệm vụ của Ban Dân tộc và miền núi lúc này làcơ quan thuộc UBND tỉnh, có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi trên địa bàn tỉnh. Nhiệm vụ và quyền hạn gồm: Chủ trì, phối hợp với các ngành và các huyện xây dựng chiến lược, kế hoạch 5 năm, hàng năm, các chính sách cụ thể về dân tộc; chủ trì, phối hợp với các ngành tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện kế hoạch đó; theo dõi, đôn đốc kiểm tra các ngành, các cấp trong việc thực hiện các quyết định của Đảng và Nhà nước về những chủ trương, chính sách đối với miền núi và dân tộc, các dự án, chương trình kinh tê- xã hội miền núi và vùng dân tộc thiểu số, chính sách định canh định cư cho đồng bào dân tộc; tham gia với các ngành, địa phương về việc quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp cán bộ chủ chốt là người dân tộc làm công tác chính quyền. Đón tiếp, giải quyết hoặc phối hợp với các cơ quan để giải quyết những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số theo chế độ, chính sách, pháp luật quy định; hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác dân tộc ở các ngành và các huyện.Trụ sở cơ quan đặt tại số 53 đường Nguyễn văn Cừ, Thị xã Bắc Giang (nay là thành phố Bắc Giang); Trưởng Ban dân tộc và Miền núi thời kỳ này là đồng chí Lâm Văn Thăng (Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy kiêm nhiệm), Phó Trưởng Ban là Đồng Chí Hà Mạnh Hùng.
Thực hiện Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18/2/2004 của Chính phủ về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc UBND các cấp, Ban Dân tộc và Miền núi được đổi tên thành Ban Dân tộc theo Quyết định số 100/QĐ-UB ngày 03/8/2004 của UBND tỉnh Bắc Giang. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Ban Dân tộc được quy định tại Thông tư số 53/2004/TTLT-UBDT-BNV ngày 18/2/2004 của Ủy ban Dân tộc-Bộ Nội vụ và Quyết định số 102/2004/QĐ-UB, ngày 10/8/2004 của UBND tỉnh Bắc Giang. Theo đó, Ban Dân tộc là cơ quan chuyên môn ngang Sở thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công tác dân tộc, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh  quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc tại địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo uỷ quyền của UBND tỉnh, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý trong lĩnh vực công tác dân tộc từ TW đến địa phương.  Ban Dân tộc chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế công tác của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của Uỷ ban Dân tộc. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Dân tộc là:
1.Trình UBND tỉnh các Quyết định, Chỉ thị về lĩnh vực công tác dân tộc thuộc phạm vi quản lý;
2. Trình UBND tỉnh các Chương trình, Kế hoạch công tác dài hạn và hàng năm, các dự án quan trọng thuộc lĩnh vực công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh;
3. Trình UBND tỉnh các biện pháp nhằm đảm bảo điều kiện cải thiện đời sống vật chất tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh;
4. Hướng dẫn kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy định pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án đã được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý;
5. Điều tra, nghiên cứu, tổng hợp về nguồn gốc lịch sử, sự phát triển của các dân tộc; đặc điểm, thành phần dân tộc, kinh tế, xã hội, đời sống văn hoá, phong tục tập quán, những vấn đề dân tộc trên địa bàn tỉnh theo phân công, phân cấp;
6. Chủ trì, phối hợp với các ngành, các cấp tổ chức chính trị xã hội ở địa phương trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước về quyền dùng tiếng nói, chữ viết về phát triển giáo dục, mở mang dân trí, ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh;
7. Chủ trì phối hợp với các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, mô hình thí điểm, các chính sách ưu đãi đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng có khó khăn đặc biệt do UBND tỉnh và Uỷ ban Dân tộc giao;
8.Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách của Nhà nước về đảm bảo thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữ gìn, tăng cường đoàn kết và tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở địa phương;
9.Hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện công tác định canh, định cư đối với đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh;
10.Trình UBND tỉnh các biện pháp cụ thể để duy trì, bảo tồn, phát triển các tộc người trên địa  bàn tỉnh; chỉ đạo và tổ chức thực hiện sau khi đã được phê duyệt;
11.Tiếp đón, thăm hỏi đồng bào các dân tộc thiểu số; phối hợp với cơ quan Nhà nước ở địa phương giải quyết các nguyện vọng chính đáng của đồng bào theo chế độ, chính sách và quy định của pháp luật;
12. Tổ chức các cuộc gặp gỡ giữa các dân tộc để giao lưu trao đổi kinh nghiệm nhằm tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc trong tỉnh;
13. Bồi dưỡng, lựa chọn những điển hình tập thể và cá nhân tiêu biểu, có uy tín là người dân tộc thiểu số ở địa phương, gương mẫu thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước làm hạt nhân trong phong trào phát triển kinh tế, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố quốc phòng an ninh; giúp UBND tỉnh chỉ đạo, nhân rộng các điển hình tập thể, cá nhân tiêu biểu trên địa bàn tỉnh;
14. Phối hợp thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh;
15. Phối hợp với Sở Nội vụ trong việc bố trí tỷ lệ biên chế là người dân tộc thiểu số tại chỗ trong tổng số biên chế của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và những huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số;
16. Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu cực và xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công tác dân tộc thuộc phạm vi quản lý;
17. Quyết định và chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của cơ quan theo mục tiêu và nội dung được UBND tỉnh phê duyệt;
18. Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định với UBND tỉnh và Uỷ ban Dân tộc;
19. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, thực hiện chế độ tiền lương và các chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền;
20. Quản lý tài chính, tài sản của cơ quan theo quy định của pháp luật và phân cấp của UBND tỉnh;
21. Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND tỉnh giao. Các tổ chức trực thuộc bao gồm: Văn phòng;Thanh tra; Phòng Chính sách; Phòng Tổng hợp- Tuyên truyền.
Thời kỳ 2000-2006, Trưởng Ban Dân tộc là đồng chí Chu Thế Độ, Phó Trưởng ban là đồng chí Hà Mạnh Hùng (nghỉ hưu tháng 10/2003) và đồng chí Nông Văn Hợi, tiếp sau đó là đồng chí Đỗ Xuân Bình.
Cũng theo quy định tại Nghị định số 53, cơ quan công tác dân tộc cấp huyện được thành lập (Phòng Dân tộc- Tôn Giáo) ở 03 huyện đó là Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2008/NĐ-CP quy định cơ quan quản lý chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Chức năng nhiệm vụ của Ban Dân tộc được quy định tại Quyết định số 52/2011/QĐ-UBND, ngày 15/2/2011 của UBND tỉnh Bắc Giang. Theo đó, Ban Dân tộc là cơ quan chuyên môn ngang Sở thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác dân tộc. Ban Dân tộc có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Ủy ban Dân tộc. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Dân tộc được quy định như sau:
1. Chủ trì xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh: Dự thảo các Quyết định, Chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác dân tộc; Dự thảo kế hoạch 5 năm và hàng năm, chính sách, Chương trình, Đề án, Dự án quan trọng về công tác dân tộc; biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ban Dân tộc; Dự thảo các văn bản quy định về tiêu chuẩn chức danh đối với cấp Trưởng, cấp Phó các đơn vị, bộ phận thuộc Ban Dân tộc; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
2. Chủ trì xây dựng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh: Dự thảo các Quyết định, Chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác dân tộc; Dự thảo quy định mối quan hệ công tác giữa Ban Dân tộc với các Sở, ban, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp huyện; Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, tổ chức lại, giải thể các tổ chức, đơn vị thuộc Ban Dân tộc tỉnh theo quy định của pháp luật;
3. Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, chính sách thuộc lĩnh vực công tác dân tộc sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ban Dân tộc cho đồng bao dân tộc thiểu số; vận động đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
4. Tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án, đề án, mô hình thí điểm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đặc thù, hỗ trợ ổn định cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa và công tác định canh, định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
5. Thường trực giúp Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án do Ủy ban Dân tộc chủ trì quản lý, chỉ đạo; theo dõi, tổng hợp, sơ kết, tổng kết và đánh giá việc thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc ở địa phương; tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp để giải quyết các vấn đề xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, di cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các vấn đề dân tộc khác trên địa bàn tỉnh.
6. Giúp Ủy ban Nhân dân tỉnh tổ chức tiếp đón, thăm hỏi, giải quyết các nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số theo chế độ chính sách và quy định của pháp luật; định kỳ tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số các cấp của tỉnh; lựa chọn đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng các tập thể và cá nhân tiêu biểu người dân tộc thiểu số có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất, phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giữ gìn an ninh, trật tự và gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
7. Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ quản lý Nhà nước về công tác dân tộc đối với Phòng Dân tộc cấp huyện và cán bộ, công chức giúp Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
8. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công tác dân tộc theo quy định của pháp luật và phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh; tham gia thẩm định các dự án, đề án do các Sở, ban, ngành và các cơ quan, tổ chức xây dựng có liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
9. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước về dân tộc theo chuyên môn, nghiệp vụ được giao.
10. Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong lĩnh vực công tác dân tộc theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
11. Phối hợp với Sở Nội vụ trong việc bố trí công chức là người dân tộc thiểu số làm việc tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, cấp huyện và cán bộ, công chức là người dân tộc làm việc tại Ủy ban nhân dân cấp xã; xây dựng và tổ chức thực hiện đề án ưu tiên tuyển dụng sinh viên dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng vào làm công chức tại cơ quan nhà nước ở địa phương. Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo trong việc cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào học các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dân tộc nội trú theo quy định của pháp luật.
12. Thực hiện công tác tổng hợp, thống kê, thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh và nhiệm vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh và Ủy ban Dân tộc.
13. Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của các đơn vị trực thuộc Ban Dân tộc; quản lý tổ chức, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương, chính sách và chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Ban Dân tộc theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
14. Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
15. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật. Các tổ chức thuộc gồm: Văn phòng; Thanh tra; Phòng Kế hoạch- Tổng hợp; Phòng Thông tin- Tuyên truyền; Phòng Chính sách.
 Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2008/NĐ-CP quy định cơ quan quản lý chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, các phòng Dân tộc- Tôn giáo các huyện giải thể, nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc giao cho phòng Nội vụ các huyện thực hiện. Sau khi có Nghị định số 12/2010/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị Định 14, phòng Dân tộc được tái thành lập ở 4 huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế với biên chế từ 3-5 đồng chí.
Từ thực tiễn tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc trọng tâm là nội dung Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị và quyết định 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về một một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế, xã hội miền núi. Cơ quan công tác dân tộc đã tham mưu cho Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động để thực hiện, nhằm tập trung giải quyết một số vấn đề bức xúc đang đặt ra ở vùng dân tộc.
          Trước những đòi hỏi của sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc theo đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng. Sau khi  có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương về công tác dân tộc, cơ quan công tác dân tộc đã tham mưu cho Tỉnh uỷ tổ chức triển khai tinh thần của Nghị quyết tới các cơ quan, ban ngành tỉnh, huyện. Các  nội dung Nghị quyết 23, 24, 25 được triển khai sâu rộng đến tổ chức đảng cơ sở, đến từng đảng viên, cán bộ công chức. Các địa phương có đông đồng bào DTTS sinh sống như Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên. Tỉnh uỷ đã xây dựng Chương trình hành động số 40-CT/TU ngày 30/5/2003 về thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW, đề ra các mục tiêu chủ yếu đến năm 2010, các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp thực hiện; chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền các cấp tổ chức quán triệt nội dung Nghị quyết TW 7, xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết. Huyện uỷ, Đảng uỷ xã căn cứ vào mục tiêu, nội dung Nghị quyết và chương trình hành động của Chính phủ, của Tỉnh uỷ vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa phương xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của địa phương, đơn vị; chương trình hành động thể hiện rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương, cơ sở đến năm 2010.  Cơ quan làm công tác dân tộc các cấp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành cùng cấp triển khai thực hiện các nội dung của Chương trình hành động, tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cùng cấp trong việc xây dựng chương trình hành động và tổ chức thực hiện Nghị quyết 24.
Công tác tuyên truyền luôn được quan tâm đẩy mạnh từ cấp tỉnh đến chính quyền cơ sở, từng cán bộ, đảng viên và tuyên truyền phổ biến sâu rộng đến nhân dân miền núi, đồng bào dân tộc trong tỉnh; hình thức tuyên truyền đa dạng: trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống phát thanh - truyền thanh cơ sở và các cuộc họp tại các đơn vị, các cấp và họp thôn, bản. Thông qua tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ những nội dung của Nghị quyết 24, Chương trình hành động của Tỉnh uỷ về thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, của tỉnh về thực hiện công tác dân tộc trên địa bàn.
Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết 24 được triển khai ở tất cả các cấp, ngành; thông qua kiểm tra kịp thời đôn đốc nhắc nhở, uốn nắn những hạn chế yếu kém trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết ở các ngành, địa phương. Thực hiện công tác sơ kết (năm 2005) và công tác tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 24 (năm 2008); qua sơ kết, tổng kết đã đánh giá được những mặt đạt được và những yếu kém trong thực hiện để từ đó có biện pháp lãnh, chỉ đạo thực hiện các mục tiêu Nghị quyết đề ra. Qua nghiên cứu học tập nội dung Nghị quyết 24, Chương trình hành động số 40 của Tỉnh uỷ, toàn thể cán bộ, đảng viên thể hiện sự nhất trí cao, nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác dân tộc; thông qua học tập, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước được trực tiếp chuyển tải đến đảng viên và quần chúng, từ đó góp phần nâng cao nhận thức, củng cố lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, khơi dậy ý chí quyết tâm của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, tạo sự đồng thuận trong trong cộng đồng dân cư. Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp, ngành ngày càng coi trọng và quan tâm đến công tác dân tộc nhất là trong tình hình mới hiện nay. Xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là nhân tố thúc đẩy và góp phần thực hiện hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tình hình an ninh - chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng miền núi, dân tộc.
Sau hơn 8 năm triển khai thực hiện, sự lãnh đạo của cấp uỷ các cấp, ngành về công tác dân tộc không ngừng được tăng cường; nội dung, phương thức lãnh chỉ đạo được đổi mới từng bước theo hướng toàn diện, phong phú và thiết thực; quán triệt nhiệm vụ công tác chính trị tư tưởng hướng về cơ sở, cán bộ lãnh đạo, đảng viên (nhất là cán bộ, đảng viên làm công tác dân tộc) luôn bám sát cơ sở, đi sâu vào quần chúng, tập chung giải quyết những vấn đề nội cộm, những yêu cầu thiết thực về tư tưởng và lợi ích của đồng bào các dân tộc; nắm chắc tâm tư, nguyện vọng, những chuyển biến tư tưởng của đồng bào dân tộc trong tỉnh.
Dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể nhân dân và tham gia tích cực của đồng bào các dân tộc phong trào thi đua yêu nước thông qua những hành động thiết thực trong công tác xoá đói, giảm nghèo làm giàu cho gia đình làng bản, quê hương. Qua phong trào thi đua đã có hàng trăm tổ chức, cá nhân được nhận hình thức khen thưởng của TW, tỉnh, huyện, xã về bảo đảm an ninh chính trị, TTATXH, phát triển kinh tế-xã hội, xoá đói giảm nghèo vùng dân tộc. Trong thời kỳ này, toàn tỉnh đã huy động được trên 2.500 tỷ đồng, với các Chương trình như: Chương trình 135 (giai đoạn 2001-2005 đầu tư trên địa bàn 44 xã,­ giai đoạn 2006-2010 đầu tư trên địa bàn 30 xã và 97 thôn bản), Chương trình Trung tâm cụm xã giai đoạn 1997-2005 đầu tư xây dựng 11 TTCX, Quyết định 134, di dân, tái định cư­ Trư­ờng bắn  quốc gia TB1,  Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg, các chính sách về giáo dục, đào tạo; công  chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc đ­­ược quan tâm,  công tác văn hoá thông tin, thể dục thể thao có b­ước chuyển biến đáng kể, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" đã đư­­ợc quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả cao.
 Công tác đào tạo, bồi dư­ỡng đội ngũ cán bộ ng­­ười dân tộc,nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở vùng đồng bào dân tộc cũng đạt đ­ư­ợc những kết quả quan trọng. Hệ thống chính trị ở các huyện, xã khu vực miền núi thường xuyên được quan tâm củng cố vững chắc, hầu hết các thôn bản ở vùng dân tộc đã có tổ chức Đảng.
Ban Dân tộc đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị số 501/CT-TTg ngày 03/8/1996 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện một số chính sách đối với người Hoa. Sau hơn 15 năm thực hiện, tình hình người Hoa và công tác Người Hoa trong tỉnh đã có chuyển biến rõ rệt. Nhận thức của các cấp các ngành về người Hoa và công tác người Hoa được nâng lên, xác định rõ người Hoa là một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước đối với người Hoa đã được quán triệt tới cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể ở cơ sở. Việc thực hiện chính sách đối với người Hoa đã được chính quyền các cấp, các ngành thực hiện đúng theo Chỉ thị số 501/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW Ngày 8/5/2009 của Ban Bí thư về lãnh đạo Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, Quyết định số 757/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hướng dẫn số 04/HD-UBDT của BCĐ đại hội toàn quốc, văn bản chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh; BCĐ Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh đã xây dựng Kế hoạch tổ chức Đại hội cấp tỉnh và tại 4 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế.Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số là sự kiện chính trị - xã hội quan trọng trong đời sống cộng đồng các dân tộc Việt Nam; nhằm tiếp tục tổng kết, đánh giá công tác dân tộc, khẳng định đường lối nhất quán của đảng và nhà nước ta về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc; khẳng định tôn vinh và biểu dương công lao đóng góp to lớn của các dân tộc thiểu số đối với thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam. Đại hội là diễn đàn giao lưu, trao đổi, tạo sự đồng thuận và niềm tin vững chắc của đồng bào các dân tộc vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đây cũng là nguyện vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc thiểu số, Đại hội là biểu tượng sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, thống nhất ý chí và hành động vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
 Báo cáo chính của Đại hội các cấp đã tổng kết, đánh giá tình hình dân tộc, công tác dân tộc của Đảng, phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số qua các thời kỳ cách mạng và phương h­ướng, nhiệm vụ công tác dân tộc đến năm 2020, được đa số các đại biểu đồng tình ủng hộ. Riêng Báo cáo chính của Đại hội tỉnh được đồng chí Giàng Seo Phử- Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ Ban Dân tộc- Phó Trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Đại hội đại biểu các DTTS Việt Nam đánh giá cao. Báo cáo tham luận của các đại biểu tại Đại hội đã bổ sung khẳng định đoàn kết dân tộc và đóng góp to lớn của đồng bào DTTS trong cách thời kỳ cách mạng, đặc biệt là thời kỳ đổi mới. Quyết tâm thư của đại hội (chương trình thi đua) nêu bật được nội dung kêu gọi đồng bào đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng cùng phát triển; phấn đấu thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà Nước.
Công tác tuyên truyền được các cấp tổ chức Đại hội trú trọng, thời gian tuyên truyền trước, trong và sau Đại hội. Nội dungtuyên truyền tập trung vào quán triệt các văn bản của Trung ương, của tỉnh về lãnh đạo, chỉ đạo Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số; ý nghĩa, tầm quan trọng của Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam; thành tựu nổi bật của công tác dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở từng địa phư­ơng; các tập thể, cá nhân điển hình trong việc học tập và làm theo tấm g­ương đạo đức Hồ Chí Minh; các cá nhân tiêu biểu qua các thời kỳ cách mạng, cá nhân sản xuất giỏi trong thời kỳ đổi mới; các cơ quan, đơn vị có nhiều thành tích trong phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc; các chủ trư­ơng, chính sách của Đảng và Nhà nư­ớc đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng.
 Đại hội huyện đã khen th­ưởng cho 45 tập thể và 160 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác dân tộc ở địa phư­ơng và 469 đại biểu đã đư­ợc Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT tặng Kỷ niêm chư­ơng “Vì sự nghiệp phát triển các dân tộc”. Chủ tịch UBND tỉnh khen tặng Bằng khen cho 28 tập thể và 26 cá nhân, đề nghị Uỷ Ban Dân tộc tặng kỷ niệm ch­ương cho 127 đại biểu thuộc các huyện, thành phố và các ngành không tổ chức đại hội. Tại Đại hội toàn quốc, Thủ tướng Chính phủ đã tặng Bằng khen cho 01 tập thể và 02 cá nhân, Chủ tịch n­ước tặng Huân chư­ơng lao động hạng ba cho 01 cá nhân. Sau Đại hội, đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo khí thế thi đua sôi nổi trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, cơ quan công tác dân tộc đã chủ trì, phối hợp với các ngành ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ kiểm tra, tổng kết kết quả thực hiện các chính sách, chương trình dự án ở vùng dân tộc và trực tiếp quản lý chỉ đạo thực hiện có hiệu quả một số chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc miền núi.
Đến nay đã đề nghị Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc công nhận 181 xã miền núi (trong đó có 44 xã vùng cao). Triển khai thực hiện rà soát, phân định 3 khu vực miền núi theo trình độ phát triển theo Quyết định số 393/2005/QĐ-UBDT và hướng dẫn số 801/UBDT-CSDT của Uỷ ban Dân tộc, lấy xã là đơn vị cơ bản trên cơ sở rà soát, phân định các thôn bản theo tiêu chí 3 khu vực miền núi, đảm bảo dân chủ, công khai. Tổng số xã được phân định: 169 xã, trong đó: Xã khu vực I: 84 xã, khu vực II: 55 xã, khu vực III: 30 xã. Tổng số thôn, bản ĐBKK: 277 thôn, bản (trong đó 180 thôn thuộc 30 xã KVIII, 97 thôn thuộc 31 xã KVII và 01 Thị trấn). Việc ban hành Tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 393/2005/QĐ-UBDT của Ủy ban Dân tộc làm cơ sở để áp dụng và thực thi những chính sách và có kế hoạch đầu tư phù hợp với từng khu vực, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, các khu vực. Quy trình phân định được thực hiện một các công khai minh bạch, nên kết quả phân định phản ảnh trung thực, khách quan trình độ phát triển giữa các khu vực, không phát sinh những khiếu nại, thắc mắc của cán bộ và nhân dân, tạo sự đồng thuận của các cấp các ngành, dư luận xã hội.Quá trình triển khai thực hiện các chính sách đối với từng khu vực đã góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, đẩy nhanh tốc độ phát triển.
Nhiều nội dung, chính sách lớn, chương trình, dự án đầu tư có hiệu quả đã phát huy tác dụng thúc đẩy kinh tế xã hội triển nhanh, cơ sở hạ tầng vùng dân tộc miền núi đựơc tăng cường, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện nâng lên rõ rệt. Chương trình xây dựng Trung tâm cụm xã (TTCX) giai đoạn 1999-2005 và năm 2009-2010 đã đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành các hạng mục theo dự án được phê duyệt tại 11 TTCX ở các huyện miền núi, vùng cao. Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa được triển khai thực hiện từ năm 1998 với phạm vi đầu tư trong giai đoạn I (2001-2005) là 44 xã, giai đoạn II (2006-2010) đầu tư tại 30 xã và 97 thôn bản. Chính sách 134 về hỗ trợ hộ nghèo DTTS về nhà nhà, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt và các chính sách dân tộc khác được đánh giá là thiết thực, hiệu quả cao phục vụ phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc.
Từ năm 2005-2010, UBND tỉnh đã giao cho Ban Dân tộc phối hợp với các Sở, ngành và Trường Cao đẳng Nông lâm Việt Yên đào tạo cho cán bộ các xã vùng dân tộc trên địa bàn 06 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên. Ban Dân tộc xây dựng Kế hoạch và tổ chức thực hiện từ 2005- 2008, đã mở 01 lớp Cao đẳng Quản lý kinh tế cho 84 học viên. Kết thúc khóa học đã có 38 học viên tự học liên thông lên Đại học. Các học viên sau khi ra trường được bố trí công tác tại các xã trong vùng đồng bào dân tộc, vận dụng tốt kiến thức đã học vào công tác và cuộc sống, nhiều đồng chí đã được tín nhiệm, được bầu, được giao giữ những cương vị chủ chốt của xã.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác vận  động người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, cơ quan công tác dân tộc đã tham mưu cho Tỉnh uỷ chỉ đạo các cấp, các ngành, cấp uỷ đảng và chính quyền tích cực vận động và đã thu được kết quả to lớn, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại vùng dân tộc thiểu số của tỉnh. Xác định rõ là người được đồng bào dân tộc thiểu số tín nhiệm, có mối liên hệ chặt chẽ và ảnh hưởng nhất định với cộng đồng dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số, là chỗ dựa quan trọng của cấp uỷ chính quyền các cấp trong việc tuyên truyền, vận động, tổ chức đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước, thamn gia phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hàng năm, ngân sách tỉnh đều bố trí kinh phí để thực hiện chính sách đối với 200 Già làng, người có uy tín trong đồng bào DTTS như: tổchức tặng quà tết, tham quan nghỉ mát, cấp Báo Bắc Giang và Báo Nhân dân miễn phí, thăm hỏi và tiếp đón đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ đó đã phát huy mạnh mẽ mặt tích cực, thông qua đó vận động đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ và chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia phát triển kinh tế- xã hội, phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự; thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư“ tại các xã, thôn bản vùng dân tộc thiểu số của tỉnh.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/3/2011 về chính sách đối với người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, Uỷ ban Dân tộc-Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 05/2012/TTLT-UBDT-BTC ngày 16/12/2011 hướng dẫn thực hiện, Ban Dân tộc đã tham mưu UBND tỉnh hướng dẫn các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Lạng Giang chỉ đạo các  xã, thôn bản tổ chức bầu chọn được 498 người có uy tín, được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt danh sách tại Quyết định số 482/QĐ-UBND ngày 19/4/2012.
          Cơ quan công tác dân tộc phối hợp với các ngành, các huyện tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách, chương trình dự án về giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá xã hội ở vùng dân tộc miền núi như: chính sách cử tuyển; chính sách trường phổ thông dân tộc nội trú; chính sách ưu đãi cán bộ công tác ở vùng dân tộc, đào tạo, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số; chính sách miễn giảm viện phí đối với đồng bào dân tộc; chính sách xây dựng các thiết chế văn hoá cơ sở...
Các chính sách có nội dung hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số như: chính sách định canh, định cư; chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở; chính sách trợ giá, trợ cước; chính sách hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; chính sách cấp các loại báo chí; chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất; chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân nghèo vùng khó khăn...được triển khai thực sự có hiệu quả đã tạo ra cơ hội thuận lợi cho đồng bào các dân tộc nhanh chóng ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo.Thông qua thực hiện các chính sách, cùng với sự nỗ lực v­ươn lên của đồng bào, vùng dân tộc thiểu số của tỉnh đã có chuyển biến đáng kể: toàn tỉnh đã có 18 xã hoàn thành mục tiêu Chư­ơng trình 135 (giai đoạn I là 14 xã, giai đoạn II là 04 xã);  hộ nghèo dân tộc cơ bản đã đư­­ợc xoá nhà tạm; 98% số xã vùng dân tộc miền núi xe ô tô đã vào đư­­ợc trung tâm, kể cả mùa m­ưa; trên 95% số hộ trong vùng đã đư­­ợc sử dụng điện l­ưới quốc gia (năm 2003 mới có 62% số hộ); trên 70% số hộ dân được sử dụng n­­ước sinh hoạt hợp vệ sinh; mức sống của đồng bào được tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn giảm đáng kể, từ 72,06% năm 2005, xuống còn 42,41% năm 2010, bình quân giảm 4-6%/ năm. Hệ thống chính trị ở các huyện, xã khu vực miền núi thường xuyên được quan tâm củng cố vững chắc, hầu hết các thôn bản ở vùng dân tộc đã có tổ chức Đảng. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân vùng dân tộc đã tích cực vận động đồng bào dân tộc thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước.
Từ năm 2007 -2012, Trưởng Ban là đồng chí Đỗ Xuân Bình, các Phó Trưởng ban là đồng chí Nông Văn Hợi (nghỉ hưu năm 2009), đồng chí Nguyễn văn Doanh (chuyển công tác về làm Chủ tịch UBND huyện Lục Nam tháng 7/2010), đồng chí Leo Thị Lịch (chuyển công tác sang làm Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh tháng 7/2010), đồng chí Chu Quý Minh (điều động và bổ nhiệm từ tháng 9/2010), đồng chí Nhữ văn Nam (nguyên Trưởng phòng Kế hoạch- Tổng hợp) bổ nhiệm tháng 7/2011.
4. Công tác dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Tiếp tục  triển khai thực hiện các nghị quyết, nghị định, chỉ thị, quyết định của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về lĩnh vực công tác dân tộc, trọng tâm là nội dung kết luận số 57/KL/TW, ngày 3-11-2009 của Bộ Chính trị về công tác dân tộc; chỉ thị số 1971/CT-TTg ngày 27/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, triển khai Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc. Mục tiêu quan trọng của công tác dân tộc đến năm 2020 là: Tập trung phát triển kinh tế - xã hội các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số bền vững; tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi xã hội; nâng cao trình độ dân trí, tăng cường chất lượng dịch vụ công, bảo vệ môi trường sinh thái, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa vùng dân tộc và các vùng khác trong tỉnh và giữa các dân tộc. Đảm bảo phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng gia đình, xã, thôn bản văn hóa gắn với giữ gìn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Để thực hiện được các mục tiêu trên, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp chủ yếu sau:
 
 Tập trung hơn nữa các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc, thực hiện tốt việc lồng ghép các ngồn vốn Các Chương trình MTQG, xây dựng cơ bản tập trung, vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA,  kêu gọi vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là ngân sách địa phương và vốn xã hội hoá từ các thành phần kinh tế, hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn để tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn bản (công trình thủy lợi, nước sinh hoạt). Thực hiện chương trình cấp nước sạch cho các hộ ở vùng thiếu nước hoặc phải dùng nước không hợp vệ sinh, kết hợp sửa chữa, nâng cấp và duy trì hoạt động các công trình nước sinh hoạt tập trung đã đầu tư; đầu tư xây dựng các công trình giao thông nông thôn các tuyến liên xã, từ xã đên thôn bản, trụ sở xã, cải tạo nâng cấp và phát triển lưới điện trong vùng dân tộc.
 Tiếp tục đầu tư xây dựng các trường Tiểu học, THCS đạt chuẩn quốc gia, các điểm trường lẻ ở bậc tiểu học và mẫu giáo nhằm đáp ứng nhu cầu học tập cho học sinh;thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đối với học sinh là người dân tộc thiểu số; Nâng cao chất lượng đào tạo học sinh, tăng chỉ tiêu tuyển sinh học phổ thông dân tộc nội trú (tỉnh, huyện) đối với học sinh các dân tộc có số dân ít, chậm phát triển. Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, triển khai có hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe, công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, đảm bảo tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số bằng với mức bình quân chung của toàn tỉnh. Giữ gìn và phát huy tiềm năng của các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, rút ngắn khoảng cách về sự hưởng thụ văn hóa, thể thao giữa các vùng trong tỉnh;thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý phù hợp với từng đối tượng và địa bàn vùng dân tộc; đẩy mạnh phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nếp sống văn minh; tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
 - Tăng cường hoạt động tuyên truyền cho đồng bào DTTS về vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế- xã hội nhằm nâng cao nhận thức về  hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống phục vụ phát triển kinh tế- xã hội; xây dựng, nhân rộng các điển hình về ứng dụng thành công các tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số.
   Tiếp tục làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng các công tác giúp đỡ, kết nghĩa của các cơ quan, đơn vị đối với các xã nhất là về phát triển kinh tế - xã hội và công tác vận động quần chúng. Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 06/2008/CT-TTg ngày 01/02/2008 và Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ, phát huy vai trò tích cực của người có uy tín ở đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc;chú trọng phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số, gắn với việc bỗi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng hoạt động cho cán bộ.
  Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để cán bộ đảng viên và đồng bào dân tộc thiểu số nắm vững và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách; phát huy nội lực, khắc phục tâm lý trông chờ, ỷ nại vào đầu tư hỗ trợ của Nhà nước; nâng cao kỹ năng và ý thức lao động, phát huy tinh thần đoàn kết trong cộng đồng. Thường xuyên tuyên truyền gương người tốt việc tốt, hộ dân tộc thiểu số sản xuất kinh doanh giỏi, kịp thời biểu dương, động viên những đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua; tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi giai đoạn 2012-2015. Tăng cường giáo dục pháp luật, ý thức cảnh giác trong đồng bào dân tộc thiểu số, chủ động đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, lôi kéo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.
      
          * Tóm lại:  Những kết quả trong hoạt động và chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc  trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh vùng đân tộc và miền núi; cụ thể hóa lời dạy của Bác Hồ “Chính sách của Đảng và Chính Phủ đối với miền núi là rất đúng đắn, trong chính sách có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết và nâng cao đời sống của đồng bào”.Mặt khác, chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta trong hoạch định chủ trương, đường lối và lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới đã góp phần rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc, giữa vùng dân tộc với các vùng khác trong tỉnh, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
          Trong suốt chặng đường phát triển, hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc, từ Ban Dân tộc trực thuộc Tỉnh ủy, Ban Dân tộc và Miền núi, cho đến Ban Dân tộc hiện nay luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, các đồng chí Lão thành Cách mạng, các đồng chí nguyên là lãnh đạo Ban qua các thời kỳ. Đối với cơ quan cấp tỉnh, từ chỗ chỉ có 02 cán bộ chuyên trách năm 1995 (đồng chí Trưởng ban kiêm nhiệm) và 15 biên chế năm 2005 thì đến năm 2012 đã có 26 biên chế, 03 lãnh đạo với 05 phòng chuyên môn, bộ phận. Đối với cơ quan cấp huyện từ chỗ chỉ có 01 chuyên viên làm công tác dân tộc nằm trong văn phòng HĐND-UBND huyện thì nay đã có phòng chuyên môn, tham mưu giúp UBND huyện thực hiện các nhiệm vụ theo quy định, có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.
 

Video giới thiệu
Đăng nhập